You are here:   Trang chủ Phát triển ngôn ngữ trẻ em

Chứng cứ khoa học mới về AUTISM

Chúng ta phải cư xử như thế nào? Trong một cuộc thảo luận nội bộ trước đây, chúng ta đã lo ngại tới việc dạy trẻ theo cách thức, dù rất khoa học, phù hợp với điều mà ta gọi là "khiếm khuyết" não bộ của trẻ. Nếu sau này, học "hòa nhập",..

liệu trẻ có thể tiến bộ theo cách ở lớp học thông thường theo "truyền thống" như mọi trẻ em khác?Ví dụ: để học ghép vần đọc chữ CAM (vd: trái cam)[ a mờ am...cờ am = CAM ]. Một trẻ em có chứng tự kỷ, có thể, chỉ cần chụp ảnh "flash" là có thể đọc chữ CAM một cách dễ dàng mà không cần phải ráp vần! Có lẽ nhiều phụ huynh cũng đã thấy tiềm năng đó nơi con em mình. Tuy nhiên, nếu phải  đi theo quỹ đạo "dạy&học" của trẻ em bình thường, có thể làm cho chúng phẫn nộ (up-set) !  Phát hiện mới của các nhà khoa học tiên phong đã đưa tới một kết luận chắc chắn giúp cho chúng ta biết phải ứng xử như thế nào là đúng với thế giới của người tự kỷ và trẻ em mắc chứng tự kỷ.

Bài viết này do Ngọc Uyên (Sv Utas AUTRALIA) đọc và lược dịch gửi về cho website. Sau khi  cô đọc và cảm thấy bức xúc  về một bài viết trên báo mạng của VN: " Những người cả đời vẫn là đứa trẻ "(Click xem) , theo cô có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần của phụ huynh có con em có dấu hiệu mắc chứng tự kỷ. Cô đã hỏi giáo sư của mình về thần kinh học và được ông chỉ dẫn nên đọc bài viết mới này.


Trong não người tự kỷ, khám phá và nhận biết bằng cách nhìn ảnh vật mạnh hơn bằng ý nghĩ  để kiểm soát và hành động.
Tác giả: Nordqvist Christian ngày 05 tháng tư 2011 - 6:00 PDT

Các bộ phận não bộ của người mắc chứng tự kỷ chủ động ở các vùng  để khám phá và nhận dạng bằng hình ảnh và tỏ ra kém hơn ở các vùng dành cho - quyết định làm gì, hoạch định và thực thi, và kiểm soát nhận thức, các nhà nghiên cứu từ Đại học Montreal cho biết trong tạp chí Human Brain Mapping. Tiến sĩ Laurent Mottron, tại (*1)CETEDUM /Montreal-Canada/ tin rằng phát hiện của họ giải thích được lý do tại sao hầu hết những người tự kỷ có xu hướng làm được rất tốt các nhiệm vụ mang tính trực quan.

Tiến sĩ Mottron và nhóm nghiên cứu nêu ra để tìm hiểu lý do vì sao các cá nhân tự kỷ  xử lý các dữ liệu thông tin trực quan tốt hơn. Các nhà nghiên cứu thu thập thông tin có giá trị trong 15-năm qua của não, gồm cách não hoạt động khi "biên dịch mã" chữ viết, khuôn mặt và các đối tượng. Họ duyệt lại 26 công trình nghiên cứu khác nhau về hình ảnh não, liên quan đến 727 cá nhân (357 người tự kỷ và 370 người không tự kỷ).

Tác giả, là người đi đầu, Fabienne Samson cho biết:

"Qua phân tích&tổng hợp (meta-analysis), chúng tôi đã có thể quan sát nơi người autistics, so với người không autistics, có những hoạt động mạnh, rõ nét ở các vùng thái dương và vùng chẩm và trong vỏ não phía trước thì ít hoạt động hơn. Việc xác định vùng thái dương và vùng chẩm thường liên quan đến cảm nhận và nhận  biết hình dạng và vật thể; vùng phía trước não được biết để hỗ trợ chức năng nhận thức cao hơn như: ra quyết định, kiểm soát nhận thức, lập kế hoạch và thực thi.

Vùng não xử lý thông tin thị giác tham gia mạnh hơn ở bệnh tự kỷ là phù hợp cho các tài liệu nâng cao khả năng  nhận thức trực quan mang tính không gian đa chiều (visuo-spatial) trong số người này. "

Các nhà nghiên cứu nói rằng phát hiện của họ chỉ ra: bộ não của một người tự kỷ được tái cấu trúc nhằm ưu tiên cho quá trình nhận thức - các quá trình mà giúp cho não bộ ghi chép dữ liệu (the brain records data). Để cho phép một người bị chứng tự kỷ thực hiện thành công - theo cách riêng của họ - 
Những việc cần nhận thức đến mức cao hơn, thường sẽ cần hoạt động tích cực hơn ở các vùng phía trước của não bộ  dành cho những người không có chứng tự kỷ. Việc nhận thức phải có suy luận, có thể là ở trường hợp với một yêu cầu để xác định xem một tuyên bố là đúng hay sai, hoặc phân loại một loạt các đối tượng thành các nhóm khác nhau.

Đơn giản - có lẽ là não người tự kỷ được tổ chức theo cách khác. (*Với chúng ta) Phần phía sau não bộ phải được phát triển lên mức cao hơn - ở phần dùng để xử những gì chúng ta nhìn thấy (thông tin hình ảnh). Tuy nhiên, những lát não này có năng lực kém hơn những bộ phận của não bộ (phía trước) để giải quyết kế hoạch và ra quyết định.

Tiến sĩ Mottron cho biết:
"Chúng tôi tổng hợp các kết quả nghiên cứu chẩn đoán bằng hình ảnh (neuroimaging) sử dụng kích thích thị giác từ khắp nơi trên thế giới. Mặc dù có sự khác nhau giữa các nghiên cứu về tạo mẫu, mẫu vật, nhiệm vụ; các kết quả đủ mạnh để duy trì sự thật làm lưu tâm về giac quan tri thức của người tự kỷ với một định hình xác thực nhất.
Sự tham gia mạnh mẽ của hệ thống thị giác, dù với bất cứ nhiệm vụ gì, xác nhận yếu tố sinh lý đầu tiên để giúp nâng cao quy trình xử lý nhận thức đó là một tính năng cốt lõi của tổ chức thần kinh trong những người này.
Bây giờ chúng ta có một tuyên bố rất mạnh mẽ (như đinh đóng cột) về hoạt động của tự kỷ, họ có thể có được mảnh đất để vun trồng những hiểu biết có liên quan tới nhận thức của họ theo cách nhìn để hiểu, học tập, ghi nhớ, và lý luận của người tự kỷ. "

Làm cách nào để thích ứng với não bộ người mắc chứng tự kỷ? Theo phát hiện của họ, các nhà nghiên cứu nói rằng bộ não người mắc chứng tự kỷ chỉ đơn giản được phân bổ (reallocates) những khu vực để  cảm nhận bằng thị giác. Điều này có thể giúp các nhà khoa học quyết định cách tiến hành nghiên cứu trong tương lai, có lẽ tập trung nhiều hơn vào phát triển của não thuộc (*2) "phần dẻo" (plasticity) và kỹ năng trong lĩnh vực trực quan của  các cá nhân với chứng tự kỷ.

Tiến sĩ Mottron tin rằng phát hiện của họ có thể làm chuyển biến các chuyên gia để họ suy nghĩ ra cách mới và hiệu quả hơn giúp mọi người chung sống  với chứng tự kỷ.

Để họ  biết chữ, có lẽ, nên dạy theo cách tự nhiên hơn là những gì hiện đang được sử dụng dạy những người mắc chứng tự kỷ.

Thay vì hiểu tự kỷ là một hình thức rối loạn (vô tổ chức), Mottron thêm, tự kỷ liên quan đến"*tạo hóa" tái cấu trúc lại bộ não.Có lẽ cách tiếp cận sai lầm là, chỉ đơn giản nhìn thấy, chứng tự kỷ như một bệnh trạng với một tập hợp của các vấn đề hành vi. Để hiểu được các nhu cầu của một cá nhân với chứng tự kỷ, chúng ta nên xác định những gì, và đâu là thế mạnh và khó khăn của họ.

***Kết luận: Khi mà  các nhà khoa học nghiên cứu chức năng xử lý tín hiệu ảnh để giúp con người nâng cao nhận thức, suy nghĩ, lập luận... nói chung là tư duy thông qua hình ảnh trực quan. Bộ não người tự kỷ mà chúng ta thường cho là bị rối loạn (disorder) lại phát triển hơn ở chỗ mà người bình thường phải rèn luyện có phương pháp để phát triển. Vì vậy nếu nhận thức rằng "người tự kỷ suốt đời chỉ là đứa trẻ" có thể đúng ở một góc hẹp nào đó hoặc cách nhìn nhận đó được trang bị kiến thức bởi một "hệ quy chiếu" hàn lâm hoặc cũ rích.

Hy vọng khám phá mới mẽ này sẽ làm đảo ngược mọi nhận thức của cộng đồng về người tự kỷ, giup chúng ta bớt lo ngại và có quyền hy vọng về những gì tốt đẹp cho các trẻ em đang mắc chứng tự kỷ.

 

ADHD Một nghên cứu mới

Người mắc Rối Loạn Tăng Động Thiếu Chú ý (ADHD) có tính sáng tạo cao.

Một nghiên cứu mới đã chỉ ra người trẻ tuổi mắc chứng ADHD có sự sáng tạo hơn so với những người không có ADHD.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Michigan và Đại học Eckerd cũng nhận thấy rằng các cá nhân ADHD ưa thích phong cách suy nghĩ khác nhau. Họ thích nẩy sinh  ra các ý tưởng, nhưng hoàn thành nhiệm vụ không tốt.
Tác giả chính Holly White, giáo sư tâm lý học tại Eckerd, và Priti Shah, một giáo sư ở U-M, nhân rộng nghiên cứu của họ từ năm 2006, và những kết quả được tìm thấy là cá nhân ADHD đạt hiệu suất tốt hơn với các xét nghiệm theo tiêu chí sáng tạo.

Nghiên cứu trước đây liên quan đến cá nhân bị ADHD tập trung vào pp đo thử  tính sáng tạo trong phòng thí nghiệm.

"Chúng tôi biết rằng cá nhân ADHD đã làm tốt hơn - theo các đo đạc trong phòng thí nghiệm về cách tư duy khác nhau, nhưng chúng tôi không biết nếu trong thực tế kết quả đạt được ra sao. Các nghiên cứu hiện nay cho thấy  điều nó", Shah nói.

Suy nghĩ theo các hướng khác nhau liên quan đến việc tạo ra một số giải pháp có thể cần thiết cho một vấn đề.

ADHD là chứng rối loạn có liên quan đến hệ thần kinh: không chăm chỉ, bốc đồng và hiếu động thái quá. Hầu hết các cá nhân có các rối loạn lúc là trẻ con và vẫn còn tồn tại vào tuổi trưởng thành. Nó làm suy giảm khả năng của người đó để điều chỉnh việc học vấn và xã hội.

Sáu mươi sinh viên đại học (một nửa với ADHD) hoàn thành theo một bảng câu hỏi về mức độ thành tích liên quan đến sáng tạo trong 10 lĩnh vực, chẳng hạn như sự hài hước, âm nhạc, nghệ thuật thị giác, nghệ thuật ẩm thực, sáng chế và  viết  bằng văn bản. Những người có ADHD đạt điểm test cao hơn so với cá nhân không có rối loạn.

Các câu hỏi khác nhau để đánh giá sở thích của người trả lời theo phong cách mang tính sáng tạo:  clarifiers, những người đặt ra và cấu trúc các vấn đề; ideators, người muốn tạo các ý tưởng; developer, những người xây dựng hay cải tiến các ý tưởng và giải pháp; và người thực implementers, người đã kết hợp một ý tưởng tinh túy thành một sản phẩm  hoặc giải pháp cuối cùng.

Người không mắc ADHD  thích tham gia những vấn đề đã rõ ràng và phát triển các ý tưởng đã có sẳn. Các cá nhân mắc ADHD thích phong cách nảy sinh ra ý tưởng mới. Biết được phong cách sáng tạo có thể giúp xác định nghề nghiệp phù hợp với những điểm mạnh và điểm yếu của các cá nhân với ADHD, các nhà nghiên cứu cho biết.

Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý rằng kết quả của họ có thể một phần là do test nơi sinh viên đại học , những người có thể là một nhóm duy nhất với ADHD có động lực và thành công . Họ đã làm, tuy nhiên, đảm bảo rằng các người tham gia có ADHD và  không ADHD trong mẫu thử nghiệm thành tích học tập ngang nhau.

Những cá nhân không thành công về học vấn có thể có ích từ sự hiểu biết rằng có thể có sự bù đắp khác để cân bằng trong cuộc sống với ADHD. Cùng với nỗ lực cao để vượt qua khó khăn trong việc hoạch định, sự chú ý, và bốc đồng, họ có thể tận dụng ưu thế hơn về sức mạnh sáng tạo của họ, Shah nói.

Những phát hiện này xuất hiện trong tình trạng có các vấn đề về nhân cách và cá tính khác nhau.

 

Rối loạn đường tiêu hóa ruột ở trẻ tự kỷ

Vấn đề tiêu hóa (GI) ảnh hưởng đến nhiều trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Tiếp cận một cách chặt chẽ, nghiên cứu phương pháp điều trị bằng y tế cho bệnh tình như GI là một nhu cầu không được đáp ứng đủ cho nhiều gia đình.

Mạng điều trị tự kỷ của Autism Speaks (ATN) cung cấp các chuyên gia trong việc chăm sóc và quản lý vấn đề GI cho các trẻ em và tham gia vào các nghiên cứu lâm sàng. Tuy nhiên, bản chất cơ bản của  rối loạn chức năng GI trong ASD và mối quan hệ bệnh học với các triệu chứng bệnhASD vẫn chưa được hiểu rõ.

Dưới đây  là trả lời phỏng vấn của chuyên gia về tiêu hóa, giáo sư bác sỹ nhi khoa, một thành viên hàng đầu của nhóm nghiên cứu.

Theo Autism Speaks: chúng tôi đã được đặc quyền để có một cuộc trò chuyện với một trong những nhà điều tra quan trọng của nghiên cứu, Dr.Alessio Fasano,chuyên gia về tiêu hóa khoa nhi  tại Đại học Maryland School of Medicine (UMDSOM). Ông là giáo sư nhi khoa tại UMDSOM và Giám đốc Cơ quan Nghiên cứu Celiac thuộc Trung tâm Nghiên cứu Sinh học niêm mạc-Mucosal Biology Research Center.

Tự kỷ Speaks: Có bao nhiêu trẻ em với ASD (tự kỷ) bị ảnh hưởng bởi rối loạn GI (đường tiêu hóa- ruột), và vấn đề phổ biến nhất họ phải chịu đựng là những gì?

Dr. Fasano: Tác động của các vấn đề GI ở trẻ em với ASD là khó định lượng từ một số triệu chứng, như là đau bụng hoặc bụng khó chịu; chúng ta không thể nghe truyền đạt lại ở trẻ em không lời hoặc tối thiểu bằng lời nói. Vì lý do này, tỷ lệ trẻ em bị ASD với triệu chứng GI được báo cáo trong các tài liệu khác nhau từ 9% đến 90%. Triệu chứng GI  phổ biến nhất bao gồm táo bón mãn tính, đau bụng có hoặc không có tiêu chảy, và làm bẩn đồ lót. Xáo động giấc ngủ và thức giấc vào ban đêm, cũng đã được mô tả là có thể các triệu chứng trào ngược dạ dày thứ phát (secondary symptoms to gastroesophageal reflux-GERD).

Tự kỷ Speaks: Tại sao nghiên cứu rối loạn GI được xem là quan trọng, đặc biệt ở trẻ em với ASD?  Có phải chúng ta đã chưa biết cách điều trị các rối loạn GI ở trẻ em ?

Dr. Fasano: ASD bao gồm một túi trộn lẫn các ca (case-trường hợp) khác nhau mà chia sẻ các  hành vi điển hình được mô tả của ASD. Nói cách khác, ASD có thể xem là "điểm đến cuối cùng," nhưng con đường để đến đó có thể khác nhau từ cá nhân này đến cá nhân khác.

Một số trẻ có thể đi tới điểm đến ASD thông qua "tuyến đường GI", nghĩa là, rối loạn GI của họ có thể dẫn đến ASD ở những người có gen dễ bị biến đổi.

Bằng cách nghiên cứu rối loạn GI đặc biệt ở trẻ em với ASD, chúng tôi không chỉ đơn giản là cố gắng phát triển một phương pháp quản lý tốt hơn các triệu chứng đường tiêu hóa.

Đúng ra, có mục tiêu đầy tham vọng hơn nhiều: Chúng tôi đang cố gắng để hiểu được sinh lý cơ bản của ASD; chúng tôi đang cố gắng để "đi cùng một con đường" mà các em đã đến ASD theo cách đó của họ tới "điểm đến cuối cùng." Làm được việc như thế,  hy vọng sẽ giúp họ quay lại, đi ngược lại từ điểm đến ASD.

Tự kỷ Speaks: Xin mô tả vắn tắt nghiên cứu theo cách của bạn.

Dr.Fasano: Chúng tôi tin một vài điều là thành phần mấu chốt của các công thức ASD: 1) Khuynh hướng Gen (như đề xuất bởi các nghiên cứu trẻ sinh đôi); 2) Kích hoạt do môi trường (chất dinh dưỡng, kim loại, phụ gia, oxy hóa, đó chỉ là một vài); và 3) Một rào chắn trong ruột kém (bị thủng ruột).

Nghiên cứu của chúng tôi sẽ cố gắng để kết nối các dấu chấm giữa ba yếu tố đó

1) Liệu có điều gì chứng tỏ thành phần của vi khuẩn đường ruột ở trẻ em với đi tiêu không bình thường trong trẻ ASD là khác với trẻ em không có ASD và

2) Có chăng, sự khác biệt này kích hoạt rõ rệt các con đường  trao đổi chất dẫn đến một phản ứng miễn dịch gây viêm, và do đó,  thay đổi hành vi các cá nhân có gen nhạy cảm. Chúng tôi sẽ tích hợp các nghiên cứu lâm sàng của chúng tôi ở trẻ em ASD với một mô hình chuột của bệnh tự kỷ, không chỉ để xác nhận phát hiện lâm sàng của chúng tôi mà còn để khám phá những khả năng can thiệp cụ thể nhằm sửa đổi các vi khuẩn đường ruột  để  giảm bớt các hành vi liên quan đến ASD.

Tự kỷ Speaks: Nếu mục đích cuối cùng của chúng ta là tìm phương pháp điều trị thích hợp cho rối loạn GI ở trẻ em với ASD, tại sao phải chi tiêu quá nhiều nỗ lực nghiên cứu về sinh học các rối loạn chức năng GI?

Dr. Fasano: Đó là quan điểm khiêm tốn của tôi, sự hiểu biết tốt hơn về sinh học của rối loạn chức năng GI làm đau đớn nhiều trẻ em ASD  là chìa khóa để  tháo gỡ con đường phức tạp đã dẫn chúng đến ASD. Bằng cách trả lời được một số câu hỏi cơ bản, chúng ta có thể thực hiện theo các "mảnh vụn"(Bread Crumbs) mà họ để lại phía sau trong cuộc hành trình hướng tới điểm đến cuối cùng là ASD.

Tự kỷ Speaks: ba việc hàng đầu mà chúng ta sẽ có thể biết được từ nghiên cứu này là gì?

Dr. Fasano: Chúng tôi sẽ có thể trả lời ba câu hỏi cơ bản sau đây :

1. Có hay không một thành phần cụ thể của "vi khuẩn xấu" có thể dẫn đến một đường ruột bị thủng và viêm, và do đó,  ở trẻ em có gen dễ mắc ASD?

2. Nếu trong trường hợp đó, cụ thể, những vi khuẩn có hại làm kích hoạt các con đường trao đổi chất thì chúng tôi có thể tìm kiếm các chất chuyển hóa, được sử dụng như là chỉ dấu sinh học (ví dụ: phất cờ đỏ) chỉ ra rằng họ dấn thân vào một cuộc hành trình dẫn đến ASD?

3. Có thể chúng tôi sẽ điều khiển khéo léo các thành phần vi khuẩn trong ruột của trẻ có rối loạn GI để sửa chữa rò rỉ và viêm ruột (bằng cách theo dõi sự biến mất của các chỉ dấu sinh học) và do đó, cải thiện được hành vi của họ?

Tự kỷ Speaks: một số dấu hiệu nào mà gia đình và bác sĩ của họ có thể tìm kiếm nếu họ nghĩ rằng một đứa trẻ có vấn đề GI?

Dr. Fasano: Bên cạnh các dấu hiệu và triệu chứng rõ ràng (tiêu chảy, táo bón, và làm bẩn đồ lót), hành vi cụ thể có thể chỉ đối với vấn đề GI, bao gồm cả hành vi phát ra tiếng (la hét, hắng giọng , tật giật cơ mặt, nuốt, thở dài, than vãn, rên rỉ, vv ),. hành vi có tính chất vận động (tư thế không bình thường , bóp lên bụng, nhăn mặt, liên tục ăn, nghiến răng, vv), và / hoặc thay đổi tình trạng tổng thể (rối loạn giấc ngủ, không tuân theo những yêu cầu mà lẽ ra cần những phản ứng thích hợp, gia tăng khó chịu, vv.)

Tự kỷ Speaks: Những gia đình có thể làm gì bây giờ nếu họ nghĩ rằng con của họ có vấn đề GI?

Dr.Fasano: Nếu nghi ngờ vấn đề GI, gia đình nên đến một chuyên gia GI trẻ em quen thuộc với các rối loạn liên quan đến ASD& GI. Một điều cần tránh là, nếu như thực hiện bất kỳ biện pháp khắc phục như thông thường hoặc bất thường để giải quyết vấn đề GI của con em mình mà không có lời khuyên y tế.

Bất kỳ sự can thiệp sai sẽ làm phức tạp việc giải thích những vấn đề cơ bản GI và, do đó, làm phức tạp thêm sự quản lý thích hợp, cần thiết, để làm giảm bớt sự khó chịu của trẻ.

 

Giao tiếp trẻ từ 4T - 36T

CỘT MÓC XÃ HỘI, CẢM XÚC VÀ GIAO TIẾP CỦA TRẺ

TỪ 4 THÁNG ĐẾN 36 THÁNG

Stanley I.Greenspan,MD

Barry M. Prizant, ph.D., CCC - SLP

Amy Wetherby,ph. D . , CCC – SLP

Những cột mốc trong bảng này rất quan trọng cho sự phát triển hành vi và học tập của trẻ. Trong khi mỗi trẻ phát triển khác nhau, một vài sự khác biệt này có thể cho thấy sự chậm trễ và một số khác có thể nguyên nhân cho những lo lắng lớn hơn. Những cột mốc sau đây cung cấp những hướng dẫn quan trong cho việc theo dõi sự phát triển sức khỏe của trẻ từ 4 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi. Những cột mốc này không được dùng để thay thế cho việc tầm soát, nhưng được dùng cho những điểm thảo luận giữa cha mẹ và bác sĩ trong mỗi lần khám. Nếu trẻ không có những kỹ năng được liệt kê – hoặc mất bất kỳ kỹ năng nào ở bất kỳ độ tuổi nào – hãy chắc chắn rằng bác sĩ của bạn biết điều đó.

Trẻ 4 tháng tuổi có thể :

  • Theo dõi và phản ứng đối với những màu sáng, cử động và đồ vật
  • Hướng về phía âm thanh
  • Thể hiện sự hứng thú khi nhìn gương mặt người
  • Mỉm cười khi bạn cười với trẻ

Trẻ 6 tháng tuổi có thể :

  • Quan hệ với bạn trong niềm vui thật sự
  • Thường mỉm cười khi chơi với bạn
  • Thì thầm hoặc bập bẹ khi hạnh phúc
  • Khóc khi không hạnh phúc

Trẻ từ 9 tháng tuổi có thể :

  • Mỉm cười và cười lớn khi bạn nhìn trẻ
  • Trao đổi qua lại với bạn với nụ cười, gương mặt yêu thương và những biểu hiện khác
  • Trao đổi âm thanh qua lại với bạn
  • Trao đổi cử chỉ qua lại với bạn, chẳng hạn như đưa, lấy và chạm tới

Trẻ 12 tháng tuổi có thể :

  • Sử dụng một vài cử chỉ, từ cử chỉ này sang cử chỉ khác, để thỏa mãn như cầu như cho, chỉ, với tới, vẫy tay và chỉ bằng ngón trỏ
  • Chơi ú òa và những trò chơi xã hội khác
  • Tạo ra những âm thanh “ ma”, “ba”, “ na”, “da”, “ga”
  • Quay lại khi được gọi tên

Trẻ từ 15 tháng tuổi có thể :

  • Trao đổi qua lại với bạn bằng nụ cười, âm thanh và cử chỉ cùng một lúc
  • Dùng ngón trỏ để chỉ hoặc cử chỉ khác để kéo sự chú ý đến điều trẻ quan tâm
  • Dùng những âm thanh khác nhau để yêu cầu và gây sự chú ý với những vật mà trẻ hứng thú

Sử dụng và hiểu ít nhất 3 từ, như là “mama”, “dada”, “lọ”, “ bái bai”

Trẻ từ 18 tháng tuổi có thể :

  • Sử dụng nhiều cử chỉ với từ ngữ khi yêu cầu như là chỉ hoặc trò chuyện với bạn bằng tay và nói “ muốn nước”
  • Sử dụng ít nhất 4 phụ âm khác nhau trong lúc bập bẹ hoặc nói từ ngữ, như là m,n,p,b,t và d
  • Sử dụng và hiểu ít nhất 10 từ
  • Trẻ biết tên của những người thân hoặc những bộ phận cơ thể bằng cách chỉ hoặc nhìn về phía họ hoặc gọi tên họ
  • Chơi trò chơi giả bộ đơn giản như cho búp bê hoặc thú nhồi bông ăn và thu hút sự chú ý của bạn bằng cách nhìn bạn

Trẻ 24 tháng tuổi có thể :

  • Chơi giả bộ với bạn với nhiều hơn một hành động như là cho búp bê ăn và sau đó cho búp bê đi ngủ
  • Sử dụng và hiểu ít nhất 50 từ
  • Sử dụng từ đôi ( không bắt trước hoặc lặp lại) và có ý nghĩa như “muốn nước”
  • Quan tâm đến trẻ cùng tuổi và thể hiện sự hứng thú khi chơi với chúng, có thể đưa trò chơi cho trẻ khác
  • Tìm kiếm những đồ vật quen thuộc ngoài tầm nhìn khi được hỏi

Trẻ từ 36 tháng tuổi có thể :

  • Thích chơi giả bộ với những nhân vật có tính cách khác nhau hoặc trò chuyện với búp bê hoặc những nhân vật hành động
  • Thích chơi với trẻ cùng tuổi, có thể biểu hiện và nói với trẻ khác về một đồ chơi yêu thích
  • Sử dụng những suy nghĩ và hành động trong lời nói và trò chơi theo cách có ý nghĩ như là “buồn ngủ, đi ngủ” và “ em bé đói bụng, bú sữa”
  • Trả lời câu hỏi “ cái gì “ , “ ở đâu”, “ ai “ một cách dễ dàng
  • Nói chuyện về những sở thích và cảm xúc, về quá khứ và tương lai

Những dấu hiệu báo động đỏ :

Nếu trẻ của bạn thể hiện bất cứ biểu hiện nào, hãy yêu cầu bác sĩ hoặc những người có chuyên môn đánh giá ngay lặp tức :

  • Không cười lớn hoặc có nhũng cử chỉ thân thiện, hứng thú từ 6 tháng tuổi.
  • Không chia sẻ âm thanh, nụ cười qua lại hoặc cảm xúc trên gương mặt từ 9 tháng hoặc sau đó.
  • Không bập bẹ lúc 12 tháng.
  • Không trao đổi cử chỉ như là chỉ bằng ngón trỏ, với tới hoặc vẫy tay lúc 12 tháng tuổi.
  • Không nói từ đơn lúc 16 tháng tuổi.
  • Không nói từ đôi có nghĩa lúc 24 tháng tuổi (bắt trước hoặc lặp lại).
  • Mất ngôn ngữ hoặc bập bẹ hoặc những kỹ năng xã hội ở bất kỳ độ tuổi nào.
 


Trang 19 trong tổng số 19 trang

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay20
mod_vvisit_counterHôm qua125
mod_vvisit_counterTuần này20
mod_vvisit_counterTháng này3166
mod_vvisit_counterTổng cộng402051