Những vấn đề liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ
Ths.Trương Thanh Loan (Trường CB Từng Bước Nhỏ)
I. Vấn đề giải phẫu học và sinh lý học
1. Tai và sinh lý nghe
a. Giải phẫu tai, hệ thống tiền đình

b. Sinh lý nghe
Hoạt động của bộ máy phân tích thính giác giúp chúng ta nghe và nhận biết âm thanh, giọng nói. Đây là hoạt động chủ yếu của cơ thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Bộ máy này bao gồm các bộ phận :
- Bộ phận truyền âm : tai ngoài, tai giữa
- Bộ phận tiếp âm : tai trong có nhiệm vụ biến đổi năng lương cơ học thành xung thần kinh
- Bộ phận dẫn truyền : dẫn truyền các xung thần kinh lên trung khu và vỏ não
- Bộ phận phân tích và tổng hợp các xung thần kinh là vỏ não giúp chúng ta có cảm giác nghe.
Âm thanh đi vào tai người theo 2 con đường :
- Đường khí : âm thanh qua ống tai ngoài, đi đến màng nhĩ, đến chuỗi xương con rồi đến tai trong
- Đường xương : đi thẳng đến tai trong.
Đến tai trong, kích thích âm được nhận biết dưới hình thức biến đổi các năng lượng cơ học thành xung thần kinh. Xung thần kinh theo dây thần kinh đến vỏ não. Tại vỏ não sẽ diễn ra quá trình phân tích tổng hợp để ta có cảm giác nghe.
Trường hợp một trong bốn bộ phận trên bị tổn thương, bệnh lý (viêm tai giữa, thóai hóa ốc tai) thì sức nghe sẽ bị giảm mất hoặc bị điếc.
c. Sinh lý tiền đình
Hoạt động của bộ máy phân tích tiền đình giúp cho con người giữ được tư thế, vị trí đầu mình tay chân trong không gian và giữ được thăng bẳng.
Các chức năng của hệ thống tiền đình là :
- Dẫn thông tin về hệ thần kinh trung ương.
- Điều hòa phối hợp các thông tin từ cơ quan thụ cảm cảm giác tiền đình với thông tin từ bộ máy thị lực giúp tạo nên sự định hướng về không gian.
2. Hoạt động thần kinh cao cấp
a. Phản xạ có điều kiện:
Phản xạ có điều kiện được tạo thành từ quá trình hoạt động trong đời sống, tạo ra đường liên hệ tạm thời nối liền đường thần kinh truyền vào và đưởng thần kinh truyền ra.
b. Những điều kiện để tạo phản xạ có điều kiện
- Phản xạ có điều kiện dựa trên cơ sở phản xạ không điều kiện.
- Để tạo phản xạ có điều kiện phải theo đúng trình tự là tác nhân kích thích có điều kiện (tiếng kẻng) có trước, sau đó mới cho tác nhân kích thích không điều kiện (thức ăn).
- Phản xạ có điều kiện phải luôn luôn được củng cố.
c. Ý nghĩa của phản xạ có điều kiện
Con người khi sinh ra đã có phản xạ không điều kiện. Những phản xạ này cố định vĩnh viễn, không thay đổi trong suốt cuộc đời con người. Bên cạnh đó, con người cũng cần phản xạ có điều kiện để đảm bảo cho cơ thể thích nghi và tồn tại với cuộc sống luôn thay đổi. Cũng nhờ đó, con ngưởi có lời nói, chữ viết, có khả năng cải tạo môi trường, thích nghi với thiên nhiên để cuộc sống ngày càng tốt hơn.
II. Vấn đề tâm lý học và giáo dục học trẻ em
1. Tầm quan trọng của tâm lý học trẻ em đối với giáo dục
Quá trình phát triển của trẻ em là một quá trình nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, giữa cái làm được và không làm được. Giải quyết được các mâu thuẫn, trẻ sẽ bước lên trình độ phát triển mới. Kết quả đó được tích lũy từ những kinh nghiệm trong các hoạt động và giao tiếp của trẻ. Dựa vào đặc điểm đó, nhà giáo dục tổ chức các hoạt động, tạo điều kiện cho trẻ phát triển về mọi mặt. Điều này cho thấy sự quan hệ mật thiết giữa tâm lý học và giáo dục học.
2. Những quy luật phát triển tâm lý của trẻ em
a. Văn hóa và sự phát triển của trẻ em
Trẻ em được nuôi dưỡng trong tình yêu thương của cha mẹ ngay từ nhỏ. Môi trường gia đình tạo cảm giác an toàn cho trẻ giúp trẻ phát triển một cách mạnh dạn, phát huy mọi khả năng của mình. Cha mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ, hướng dẫn, dìu dắt trẻ trong những năm đầu đời. Văn hóa gia đình góp phần hình thành nhân cách cho trẻ, là cái nôi giúp trẻ phát triển về mọi mặt, đặc biệt là trong việc phát triển ngôn ngữ.
Gia đình cũng là môi trường xã hội đầu tiên, làm cơ sở cho trẻ hòa nhập xã hội bên ngoài sau này. Nền văn hóa xã hội với những tri thức, chuẩn mực đạo đức của một dân tộc góp phần phát triển trí tuệ và nhân cách cho trẻ. Việc hòa nhập xã hội đặc biệt quan trọng đối với trẻ kể cả trẻ khuyết tật.
b. Tầm quan trọng của hoạt động
Trẻ em học thông qua hoạt động. Ngay từ lúc mới sinh, trẻ làm quen với môi trường xung quanh bằng cách nhìn, sờ mó, cắn…vật. Lớn hơn một chút, trẻ vói lấy vật, hướng về phía vật…Trẻ học thông qua các hoạt động. Các hoạt động bao giờ cũng nhắm vào một đối tượng nhất định. Đối tượng đó có thể là vật và cũng có thể là người. Từ những hoạt động này hình thành ngôn ngữ và là cơ hội cho trẻ giao tiếp. Chính vì thế, chúng ta phải thiết lập nhiều hoạt động trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
c. Đặc điểm sinh học làm cơ sở cho sự phát triển
Yếu tố sinh học là yếu tố di truyền, là yếu tố bẩm sinh của một cơ thể sống. Trẻ em sinh ra đã mang những đặc điểm di truyền từ cha mẹ với những đặc điểm bẩm sinh được hình thành trong quá trình phát triển bào thai. Vì lý do nào đó, những đặc điểm này phát triển không đầy đủ, hoặc bị phá hủy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ cũng như phát triển tâm lý sau này.
d. Yếu tố giáo dục đối với sự phát triển
Giáo dục là công việc của người lớn nhằm tác động đến mọi yếu tố bên trong và bên ngoài giúp trẻ phát triển. Tuy nhiên, giáo dục phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ theo từng giai đoạn cụ thể. Giáo dục có thể giúp trẻ khắc phục những khiếm khuyết bẩm sinh, phục hồi khả năng còn lại thông qua phương pháp tập luyện.
e. Sự phát triển luôn luôn không đồng đều
Trong nhóm trẻ cùng độ tuổi bao giờ cũng có sự phát triển không đồng đều. Bao giờ cũng có sự khác biệt giữa trẻ này với trẻ khác. Điều đó là do tác động điều kiện bên trong và bên ngoài khác nhau. Ngay cả trong bản thân một đứa trẻ cũng có sự phát triển không đồng đều về các mặt. Hiểu về vấn đề này giúp cho nhà giáo dục có những kế hoạch dạy cho phù hợp.
3. Phân định thời kỳ phát triển theo lứa tuổi
Trong cuộc đời con người có sự phân định các thời kỳ phát triển khác nhau theo lứa tuổi như tuổi mầm non, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên, tuổi già. Riêng trong lứa tuổi mầm non có sự phân định lứa tuổi cụ thể hơn. Những nhà tâm lý học Việt Nam dựa vào lý luận của Đ.B.Encônin phân định lứa tuổi của trẻ em theo các hoạt động chủ đạo sau :
1/ Từ mới sinh đến 15 tháng gọi là tuổi hài nhi với hoạt động chủ đạo là hoạt động giao tiếp xúc cảm trực tiếp với mẹ.
2/ Từ 15 tháng đến 3 tuổi gọi là tuối ấu nhi, hoạt động với đồ vật.
3/ Từ 3 tuổi đến 6 tuổi gọi là tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi với trò chơi đóng vai theo chủ đề là trung tâm.
4/ Từ 6 tuổi đến 12 tuổi gọi là tuổi nhi đồng, hoạt động chủ đạo là học tập.
5/ Từ 12 tuổi đến 15 tuổi gọi là tuổi thiếu niên, hoạt động chủ đạo là giao tiếp cá nhân – thân tình.
6/ Từ 15 tuổi đến 18 tuổi gọi là tuổi thanh niên, hoạt động chủ đạo là học tập – nghề nghiệp.
Trong lĩnh vực ngôn ngữ, các giai đoạn của trẻ được chia nhỏ hơn với những đặc điểm cụ thể. Các nhà nghiên cứu thường chia độ tuổi mầm non là từ 0 tuổi đến 6 tuổi với các giai đoạn : năm thứ nhất ( dưới 1 tuổi) , năm thứ hai (dưới 2 tuổi) , năm thứ ba (dưới 3 tuổi) và tuổi mẫu giáo ( 3 – 6 tuổi)
4. Các yếu tố tác động tới sụ phát triển tâm lý cá nhân
a. Yếu tố di truyền và bẩm sinh
Yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiềm năng phát triển của trẻ nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi tác động trong môi trường sống. Chính các yếu tố này tác động đến tốc độ, mức độ phát triển tâm lý cá nhân. Nếu các yếu tố phát triển thuận lợi thì sẽ tạo điều kiện phát triển tốt về năng khiếu. Nếu chúng phát triển không bình thường sẽ làm suy giảm hiệu quả hoạt động cá nhân gây nên các yếu tố tâm lý không tốt.
b. Môi trường tự nhiên với sự phát triền tâm lý con người
Môi trường tự nhiên là điều kiện khách quan trực tiếp tác động đến các hành động nhận thức và sinh hoạt của con người. Con người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khu vực mình đang sống. Yếu tố này góp phần xây dựng nhân cách cho trẻ.
c. Môi trường văn hóa – xã hội với sự phát triển tâm lý con người
Môi trường gia đình ảnh hưởng trực tiếp trong những năm đầu đời của trè, đặc biệt vai trò của mẹ. Ngay từ trong bào thai, thông qua mẹ, trẻ tiếp xúc và cảm nhận thế giới bên ngoài. Sự gắn bó mẹ con tạo môi trường an toàn cho trẻ phát triển. Mẫu văn hóa gia đình, các kiểu quan hệ và cách chăm sóc trong gia đình khác nhau ảnh hưởng khác nhau đối với sự phát triển của trẻ. Đây là một trong những điều kiện quan tâm trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Lớn hơn một chút, trẻ hòa nhập vào xã hội bên ngoài thì quan hệ nhóm bạn là mô hình phát triển kỹ năng xã hội cơ bản giúp trẻ biết cách ứng xử với bạn bè, mọi người xung quanh. Trong giai đoạn này, tác động của nhà trường lên các cá nhân thông qua nhiệm vụ xác định mục tiêu phát triển của cá nhân. Để nâng cao hiệu quả giáo dục, nhà trường cần tạo mối quan hệ tốt giữa tác động dạy học với quy luật phát triển của trẻ. Muốn được như vậy, nhà trường phải thiết lập một môi trường văn hóa, nhân văn tốt. Trong đó, các mối quan hệ trong nhà trường cũng như giữa nhà trường với xã hội phải là mối quan hệ nền tảng, ứng xử tốt.
III. Vấn đề ngôn ngữ học : Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt
1. Ngữ âm học và âm vị học
Theo GS Đoàn Thiện Thuật, ngữ âm học ở đây là ngữ âm học thuần túy. Ngữ âm học nghiên cứu các âm thanh từ các góc độ âm học và cấu âm để phân tích và miêu tảnhững âm thanh thực thụ với những đặc trưng âm học và những nguyên lý cấu tạo nên chúng.
Âm vị học là một bộ môn nghiên cứu về ngôn ngữ để tìm ra những đơn vị của hệ thống biểu đạt của ngôn ngữ và những ước định để xác định những giá trị mà cộng đồng người sử dụng chung một ngôn ngữ gán cho các đặc trưng âm thanh.
Âm vị là đơn vị nhỏ nhất của hệ thống biểu đạt thành tiếng của một ngôn ngữ, được quan niệm như một tổng thể của những nét khu biệt được thể hiện đồng thời. Mỗi từ có hình thức biểu đạt bằng âm thanh được nhận diện nhờ các âm vị, còn bản thân các âm vị được nhận diện nhờ những nét khu biệt. Nét khu biệt là đặc trưng ngữ âm có chức năng xã hội. Những đặc trưng của âm vị giúp khu biệt hình thức biểu đạt của từ này với từ khác. Những đặc trưng về phương thức cấu âm, thanh tính và vị trí của lưỡi là những tiêu chí để nhận diện âm vị.
Ví dụ :
+ Am vị / d / là âm tắc, hữu thanh, đầu lưỡi.
+ Am vị / v / là âm xát, vô thanh, môi.
Am tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói có thể tách ra về mặt cấu âm – thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường ứng với một âm vị. Am tố bao gồm nguyên âm và phụ âm.
Ví dụ :
+ nguyên âm a cũng là âm vị /a /
+ phụ âm b cũng là âm vị / b /
Một âm vị có thể được thể hiện bằng những âm tố khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Tất cả những âm tố cùng thể hiện một âm vị được gọi là biến thể của âm vị.
Ví dụ :
+ k, c, q là biến thể của âm vị / k /
+ ng, ngh là biến thể của âm vị / ŋ /
Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất trong chuỗi lời nói .Trong tiếng Việt mỗi âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu (theo GS.Đoàn Thiện Thuật). Điều này làm cho âm tiết của tiếng Việt rất dễ nhận biết trong dòng âm thanh của lời nói. Đặc điểm nổi bật của âm tiết tiếng Việt là mỗi âm tiết là hình thức biểu đạt của một hình vị ( Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt – Đinh Lê Thư & Nguyễn Văn Huệ, trg.55). Do đó, tiếng Việt là ngôn ngữ có kết cấu âm tiết tính.
Ví dụ : Vườn / hồng / co / lối / nhưng / chưa / ai / vào.
Am tiết tiếng Việt gồm 5 thành phần theo lược đồ sau đây :

Năm thành phần của âm tiết bao gồm thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối. Tất cả các thành phần này luôn luôn có mặt trong cấu tạo âm tiết. Trong đó âm đệm và âm cuối có thể do âm vị / zêrô/ đảm trách. Có những âm tiết khi viết ra không có dấu nhưng không phải là không có thanh điệu.Âm đầu do các âm vị phụ âm đảm nhiệm, âm đệm do âm vị bán nguyên âm /-u̯/,đảm nhiệm, âm chính do các âm vị nguyên âm đảm nhiệm.
2. Sự thể hiện của các thành phần của âm tiết tiếng Việt
a. Sự thể hiện của các thanh điệu tiếng Việt trong các âm tiết rời trong phương ngữ Bắc bộ :
Theo TS.Đinh Lê Thư, trong phương ngữ Bắc bộ có 6 thanh được đánh dấu theo thứ tự sau :
Thanh 1 (không dấu) là một thanh ở âm vực tương đối cao, có âm điệu bằng phẳng ổn định, giống nhau ở tất cả các âm tiết. Ví dụ khi phát âm các âm tiết như ô, ba, mai, lan….thì mỗi người phát âm gần giống nhau, ít có sự thay đổi độ cao của thanh.
Thanh 2 (huyền) ở âm vực thấp hơn thanh 1, có đường nét âm điệu đi xuống thoai thoải, cường độ đồng đều.
Thanh 3 (ngã) là thanh ở âm vực cao, đường nét gãy, đặc biệt chỉ có trong phương ngữ Bắc bộ, có hai biến thể :
- Bắt đầu ở cao độ cao hơn thanh 2 và thấp hơn thanh 1, ở giữa âm tiết có sự hạ giọng đột ngột, kèm theo sự giảm cường độ, sau đó đường nét âm điệu vút lên cao.
- Đường nét âm điệu bắt đầu bằng phẳng hoặc hơi đi lên ở đầu phần vần của âm tiết ở giữa vần có sự hạ giọng đột ngột, giảm cường độ, và đường nét âm điệu bị gián đoạn sau đó vút lên cao.
Thanh 4 (hỏi) bắt đầu ở mức cao của thanh 2, đi xuống thoai thoải đến gần giữa vần thì giữ âm điệu bằng phẳng trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó đường nét chuyển sang đi lên cân đối với nét đi xuống và kết thúc gần với cao độ bắt đầu.
Thanh 5 (sắc) ở âm vực cao, đường nét âm điệu đi lên, có hai biến thể sau
- Đối với những âm tiết không kết thúc bằng phụ âm cuối vô thanh như cá, mái, dán…thì thanh sắc bắt đầu hơi thấp hơn thanh 1, có đường nét bằng phẳng ở giai đoạn đầu, sau đó đi lên hơi dốc.
- Đối với những âm tiết kết thúc bằng phụ âm cuối vô thanh với nguyên âm dài thì đoạn bằng phẳng của thanh rút ngắn lại, có khi mất hẳn như nhót, mướt… . Trong âm tiết khép có nguyên âm ngắn thì thanh 5 bắt đầu cao hơn và khoảng nâng ít hơn như nhắc, tất….
Thanh 6 (nặng) ở âm vực thấp, đường nét đi xuống và có thay đổi như sau
- Đối với những âm tiết không kết thúc bằng phụ âm cuối vô thanh như mạ, dại, cạn….thì thanh 6 bắt đầu ở mức thanh 2, âm điệu đi xuống đột ngột.
- Đối với những âm tiết kết thúc bằng phụ âm cuối vô thanh thì âm điệu bằng phẳng và có sự hạ giọng ở cuối nguyên âm.
Trong tiếng miền Nam, chỉ còn 5 dấu thanh do thanh hỏi và thanh ngã trùng nhau. Do đó, khi khảo sát phát âm của các bé chúng tôi chấp nhận cách phát âm từ có thanh ngã giống như thanh hỏi.
b. Hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt và sự thể hiện bằng chữ viết:
Hệ thống phụ âm đầu đang được sử dụng trong các nhà trường hiện nay được hình thành trên cơ sở phát âm Hà Nội với sự phân biệt / ʈ - c/, /ʂ - ¾/, /ʐ- z/ và các vần “ưu/ iu, ươu/ iêu”....” ( Đoàn Thiện Thuật, Ngữ âm tiếng Việt, trg.64) bao gồm 22 phụ âm .
Phụ âm đầu luôn luôn là phụ âm mở đầu âm tiết như ba, bà, mai, ngon….. Tuy nhiên có những âm tiết thể hiện trên chữ viết không ghi phụ âm đầu nhưng thực tế phát âm thì có xuất hiện âm tắc thanh hầu [ ʔ ] như ốc, ảo, ôm…..
Về phương thức cấu âm, chúng ta có thể phân biệt 22 phụ âm đầu theo tiêu chí tắc/ xát. Trong quyển “Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt” (trg.66) TS. Đinh Lê Thư viết như sau :
- Các phụ âm tắc gồm : / b, d, t, tʰ, ʈ, c, k, m, n, ɲ, ŋ, ʔ /
- Các phụ âm xát gồm : / f, v, s, z, l, ʂ, ʐ , ɣ, , h /
Sự thể hiện bằng chữ viết của các phụ âm đầu có thể tóm tắt trong bảng 1.1 :
Bảng 1.1 Sự thể hiện bằng chữ viết của các phụ âm đầu

c. Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm đệm : (theo TS. Nguyễn Văn Huệ – Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt)
Âm đệm / - u̯ -/ là một bán nguyên âm môi – ngạc mềm, có độ mở rộng hay hẹp tương ứng với độ mở của nguyên âm đi sau nó.
Ví dụ :
Trước nguyên âm hẹp i thì âm đệm / - u̯ -/ được thể hiện bằng một bán âm hẹp [u] như huy, thùy, hủy….
Trước nguyên âm có độ mở trung bình ê, ơ, â thì âm đệm / - u̯ -/ được thể hiện bằng một bán âm có độ mở vừa [ o ] như huệ, hươ, huấn….
Trước nguyên âm có độ mở rộng e, a, ă thì âm đệm / - u̯ -/ được thể hiện bằng một bán âm có độ mở rộng [ ɔ ] như hoàn, hòe, xoăn….
Âm đệm / zêrô/ được biểu hiện bằng sự vắng mặt của một con chữ như hè, há…
d. Hệ thống âm chính tiếng Việt và sự thể hiện bằng chữ viết:
Trong âm tiết tiếng Việt, âm chính có thể là một nguyên âm đơn hay một nguyên âm đôi. Theo phân tích của GS. Đoàn Thiện Thuật, các nguyên âm đơn thể hiện trên chữ viết gồm có :
- Nguyên âm đơn dài :
Âm vị / i/ được ghi bằng “y” khi âm đầu là / ʔ / (như y tá, ý nghĩ….,). Nhưng có ngoại lệ là “í a, í ới”. Với những âm đầu khác cũng được ghi bằng “y” do thói quen (như lý lẽ, kỷ niệm….). Khi xuất hiện sau âm đệm /-u̯/, / i / bao giờ cũng được ghi bằng “y” (như thủy, tùy….).
Âm vị / o / được phân bố trước /ŋ, k / có hai biến thể dài và ngắn. Thể dài được ghi bằng “ôô” (như bôông bôông). Thể ngắn được ghi bằng “ô” (như bông). Trong những trường hợp khác / o/ được ghi bằng “ ô” (như hồ, nộm…).
Âm vị / ɔ / khi xuất hiện trước /ŋ, k/ được ghi bằng “oo” (xoong, soóc). Trong các trường hợp khác thì được viết bằng “o” (như nón, đò..).
- Nguyên âm đơn ngắn :
Âm vị / ɛ̆/ xuất hiện trước /ŋ, k/ được thể hiện bằng “a” (như tách, thành….).
Âm vị / ɔ̆ / xuất hiện trước /ŋ, k/ được thể hiện bằng “o” (như mỏng, lóc…).
Âm vị /ă/ khi được phân bố trước /- u ̯, - i ̯/ được ghi bằng “a” (như tay, đau…). Trong các trường hợp còn lại thì âm vị /ă/ được ghi bằng “ă” (như mặn, dắt….).
- Nguyên âm đôi :
Âm vị / ie / được ghi bằng “yê” trong những âm tiết có âm cuối khác / zêrô/ và âm đệm /-u̯ -/ ( như thuyền, chuyển…), trong những âm tiết có âm cuối khác / zêrô/, âm đệm / zêrô/ và âm đầu / ʡ / (như yếu, yểu..).
Âm vị / ie/ được ghi bằng “iê” trong những âm tiết có âm cuối khác / zêrô/, âm đệm / zêrô/ và âm đầu khác / ʡ / (như diều, hiền…). Âm vị / ie/ được ghi bằng “ia” khi âm tiết có âm cuối / zêrô/ (như nĩa, mía…). Nếu có âm đệm /-u̯-/ thì “ia” dược thay bằng “ya” (như phéc –mơ- tuya, khuya).
Âm vị / uo/được ghi bằng “uô” khi âm tiết có âm cuối khác / zêrô/ (như muỗng, đuốc) và ghi bằng “ua” khi âm cuối là / zêrô/ (như cua, đùa..).
Âm vị / ɯɤ / được ghi bằng “ươ” trong những âm tiết có âm cuối khác / zêrô/ (như tường, ướt…) và bằng “ưa” nếu âm cuối là / zêrô/ (như thửa, mưa…).
Ngoài ra, để phân biệt các nguyên âm đơn, theo TS Nguyễn Văn Huệ ( trong Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt) dựa trên các căn cứ sau : Căn cứ vào vị trí của lưỡi và hình dáng của môi ; vào độ mở của miệng; vào âm sắc và căn cứ vào trường độ. Theo ông, hệ thống âm chính trong tiếng Việt gồm có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi / ie, ɯɤ, uo / có thể hình dung trong bảng 1.2 :
Bảng 1.2 Sự thể hiện bằng chữ viết các âm chính

e. Hệ thống âm cuối tiếng Việt và sự thể hiện bằng chữ viết :
Trong một âm tiết, âm cuối là phần kết thúc của âm tiết. Có âm tiết kết thúc bằng sự kéo dài và giữ nguyên âm sắc của âm chính. Trong trường hợp này âm cuối là âm vị / zêrô/ như cá, ba, thỏ….Có những âm tiết được kết thúc bằng động tác khép lại của bộ máy phát âm. Trong trường hợp này âm cuối là một bán nguyên âm hay một phụ âm như lau, chai, cặp, hầm…..
Theo GS.Đoàn Thiện Thuật, bán nguyên âm /-u̯/ được thể hiện bằng chữ “o” khi đứng sau các nguyên âm đơn dài /ɛ, a/ ( như mèo, chào…). Trong các trường hợp còn lại thì ghi bằng chữ “u” (như rìu, cừu, lựu…).Bán nguyên âm cuối / i̯/ được thể hiện bằng chữ “y” khi xuất hiện sau các nguyên âm ngắn / ă, ɤ̆/ (như lấy, may…). Trong những trường hợp khác thì ghi bằng chữ “i” (như tưới, muỗi, túi…).
Ngoài hai bán nguyên âm, âm cuối còn gồm có 6 phụ âm. Sáu phụ âm cuối này đối lập nhau theo phương thức phát âm (mũi / không mũi) và theo vị trí cấu âm (môi / đầu lưỡi/ mặt lưỡi). TS. Nguyễn Văn Huệ đã trình bày một cách ngắn gọn và đầy đủ cách thể hiện trên chữ viết và sự đối lập nhau của các phụ âm cuối trong bảng 1.3 :
Bảng 1.3 Sự thể hiện bằng chữ viết và sự đối lập nhau của các âm cuối

IV. Vấn đề tật học
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về chậm phát triển trí tuệ. Chúng tôi nghiên cứu và nhận thấy rằng khái niệm của nhà Tâm lý học người Mỹ Benda (1954) phù hợp với những đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ mà chúng tôi đã tiếp xúc. Xin trình bày khái niệm mà Benda đã đưa ra vào năm 1954 : “ Một người chậm phát triển trí tuệ là người không có khả năng điều khiển bản thân và xử lí các vấn đề riêng của mình, hoặc phải dạy mới biết làm như vậy, họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát, chăm sóc sức khỏe bản thân và sự chăm sóc của cộng đồng”. Đồng thời, theo DSM-IV (Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV - Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disoder 4th edition – DSM-IV) thì đặc điểm cơ bản của chậm phát triển trí tuệ là chức năng trí tuệ dưới mức trung bình, bị hạn chế về ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng và hiện tượng chậm phát triển xuất hiện trước 18 tuổi. Tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật TPHCM, chúng tôi hiểu khái niệm chậm phát triển trí tuệ theo các tiêu chí chẩn đoán của DSM-IV.
1. Tiêu chí chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ. Chúng tôi tham khảo cách chẩn đoán theo DSM-IV [12, 10] theo ba đặc diểm như sau :
- Trí tuệ
Chỉ số trí tuệ (IQ – được đo bằng cách đánh giá theo một hoặc hơn một trắc nghiệm cá nhân về trí tuệ) đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân (đối với trẻ nhỏ thì dựa vào các đánh giá lâm sàng để xác định)
- Hành vi thích ứng
Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những lĩnh vực hành vi thích ứng sau : giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, các kĩ năng xã hội, sử dụng các phương tiện trong cộng đồng, tự định hướng, kĩ năng học đường, chức năng làm việc, giải trí , sức khoẻ và an toàn.
- Thời điểm xuất hiện
Hiện tượng chậm phát triển trí tuệ xuất hiện trước 18 tuổi.
2. Một số hội chứng, khuyết tật thường đi kèm với chậm phát triển trí tuệ :
Trên thực tế, khi tiếp xúc với trẻ chậm phát triển trí tuệ chúng tôi nhận thấy rằng các bé thường có những rối loạn khác đi kèm theo như nghe kém, nhìn kém, khó khăn về vận động…. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những ảnh hưởng của các rối loạn đó trên trẻ như thế nào.
a. Khiếm thính
Những trẻ bị giảm hay mất khả năng nghe ở các mức độ nhẹ, trung bình, nặng, rất nặng và điếc được gọi là trẻ có khiếm khuyết về thính giác. Điều này gây cho trẻ khó khăn trong quá trình tiếp thu tiếng nói. Từ đó trẻ nói không đúng, không chính xác về âm, vần, thanh điệu và cấu trúc câu.Trong quá trình giao tiếp, trẻ khiếm thính cần hỗ trợ của máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai và sử dụng phương tiện giao tiếp khác là ngôn ngữ ký hiệu. Có ba dạng khiếm thính sau : khiếm thính dẫn truyền ( khiếm thính do tổn thương ở tai ngoài hoặc tai giữa), khiếm thính tiếp nhận ( khiếm thính do tổn thương tai trong), khiếm thính hỗn hợp (khiếm thính kết hợp cả hai loại trên). Các dạng khiếm thính này có thể phát hiện ra nơi trẻ chậm phát triển trí tuệ. Và đây cũng là một khó khăn làm giảm khả năng ngôn ngữ của trẻ.
b. Khiếm thị
Trong sinh hoạt hàng ngày, nếu để ý quan sát kỹ chúng ta có thể phát hiện trẻ có vấn đề về thị giác. Trong đi đứng, bé thường bị ngã, hay va vào đồ đạc và người khác. Khi nhìn vật, bé thường dụi mắt, nheo mắt và cúi nhìn vật hoặc tranh rất sát. Bé không nhận rõ vật hay người, chỉ thoáng thấy bóng thôi. Và khi để ý kỹ chúng ta sẽ thấy trẻ khám phá vật bằng xúc giác (tay) rất nhiều. Nếu có nghi ngờ trẻ nhìn không tốt, người thân nên dưa trẻ đi khám thị lực ngay. Việc đo lường khả năng thị giác dựa trên các tiêu chí mức độ sắc nét của thị lực và thị trường. Thị lực thông thường dao động trong khoảng 30% đến 100%. Nếu trẻ có thị lực từ 5% đến 30% là nhìn kém, và thị lực dưới 5% là trẻ mù. Thị trường của người bình thường từ 30% đến 100%. Thị trường trong khoảng 10% đến 30% là nhìn kém và dưới 10% là mù. Một số trẻ chậm phát triển thể chất có kèm theo nhìn kém, nghe kém (thậm chí kết hợp cả nhìn kém và nghe kém), chúng tôi sử dụng thuật ngữ “trẻ đa tật”. Đối với những trẻ này, chúng ta cần có nhiều thời gian và cần sự góp sức của nhiều nhà chuyên môn để hỗ trợ, giúp đỡ trẻ trong sinh hoạt, trong khám phá thế giới và trong học tập.

(Hình lấy từ news.zing.vn)
c. Khuyết tật thể chất

(Hình lấy từ chaobuoisang.net)
Loại hình phổ biến của trẻ khuyết tật thể chất là bại não. Bại não là một dạng bệnh làm cho trẻ không thể điều khiển vận động thông qua hệ thần kinh. Não của trẻ bị tổn thương vùng điều hòa vận động và giữ thăng bằng. Mức độ tổn thương của não trong chứng bại não sẽ không phát triển thêm. Nhưng các khó khăn đi liền với khuyết tật vận động sẽ phát triển tùy thuộc vào từng trẻ. Có nhiều dạng bại não, ở các thể khác nhau. Thể gồng cứng (Spasticity)là thể thường gặp nhất trong các trường hợp bại não. Trẻ thường có các biểu hiện rung giật gân cơ (clonus), gồng cứng nửa người hay gồng cứng tứ chi. Trẻ rất khó chuyển từ tư thế này sang tư thế khác và rất khó thả vật đang nắm ra khỏi tay. Thể múa vờn (Athetosis) thường kèm theo loạn trương lực cơ (Dystonia) làm ảnh hưởng đến sự điều khiển cử động của các cơ. Do đó làm ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể và tứ chi do trương lực cơ khi quá chặt, khi quá lỏng. Trẻ rất khó giữ tư thế thẳng khi ngồi hoặc đi, khó đưa tay đến một điểm cố định như chỉ tay vào tranh con mèo khi cô bảo chỉ con mèo. Trẻ cũng khó giữ được bút màu trong tay để vẽ trên giấy. Trẻ ở thể thất điều (Ataxia) thường đi trong tư thế run rẩy, loạng choạng, mất thăng bằng, khó khăn trong sự phối hợp các cử động của cơ thể và giảm trương lực cơ. Điều này dẫn đến trẻ rất khó khăn khi thực hiện những động tác đơn giản như cầm bút, cầm kéo, lật trang sách….Còn một dạng trẻ bại não ở thể phối hợp (Mixed) có sự phối hợp giữa thể gồng cứng và thể múa vờn.
Khó khăn nổi bật của trẻ khuyết tật thể chất là các khó khăn về vận động tinh và vận động thô. Việc di chuyển khó khăn làm hạn chế khả năng tự phục vụ, khả năng tìm hiểu mọi vật xung quanh. Để sử dụng đôi tay trong các sinh hoạt hàng ngày, sinh hoạt học tập, trẻ phải nổ lực rất nhiều, trong nhiều trường hợp hầu như không thể sử dụng được tay. Hầu hết các trẻ bại não đều gặp vấn đề trong ăn uống. Việc co cứng cơ cũng xảy ra ở cơ hàm làm trẻ có thể không nhai, khó nuốt, hay sặc khi ăn uống làm thức ăn rơi vào đường thở gây viêm đường hô hấp thường xuyên, đôi khi nguy hiểm đến tính mạng. Vấn đề này dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài. Ngược lại, có những trẻ do ít hoạt động thể chất, kèm theo ăn uống không hợp lý gây nên tình trạng béo phì. Béo phì làm nặng thêm khả năng vẹo cột sống, viêm khớp và càng hạn chế khả năng di chuyển.
Việc co cứng cơ hàm làm cho việc vệ sinh răng miệng của bé không tốt dẫn đến bé dễ bị sâu răng, mất răng, ảnh hưởng không ít đến việc phát âm. Trẻ bại não cũng phải được kiểm tra thường xuyên về mắt và tai dể kịp thời điều chỉnh những sai lệch về thị giác, thính giác, hỗ trợ cho việc tập trung, chú ý và ghi nhớ của trẻ.
d. Động kinh
Động kinh là một trạng thái xảy ra với những cơn co giật dài hay ngắn, mạnh hay nhẹ dẫn đến tình trạng mất nhận thức ngay tại thời điểm đó. Động kinh là một bệnh thường thấy ở những người chậm phát triển với tỉ lệ 30%. Mỗi khi trẻ lên cơn động kinh là thời gian bị vắng ý thức. Những cơn động kinh thường kéo dài 10 đến 30 giây hoặc 1 – 2 giờ tuỳ theo từng trẻ. Lúc đó tay chân và toàn thân trẻ co cứng, mắt trợn ngược, mặt tái. Đôi lúc trông giống như giật mình, khó nhận thấy.
Dù cho những cơn co giật dài hay ngắn, trẻ động kinh cũng đều gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và trong học tập. Khi lên cơn co giật có thể làm bé té ngã bất ngờ rất nguy hiểm. Sau mỗi lần động kinh trẻ rất mệt, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng học tập. Việc học tập của trẻ bị gián đoạn, vì thế kiến thức học đường của bé bị hạn chế làm kết quả học tập không tốt lắm. Đối với trẻ nhỏ, những cơn động kinh thường xuyên làm bé mệt mỏi, không đoái hoài gì đến đồ chơi, các hoạt động vui chơi. Bé trở nên thụ động, lầm lì, ít giao tiếp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ.
e. Hội chứng Down (Bệnh ba nhiễm sắc thể)
Hội chứng Down có tên trước kia là “chứng đần Mông Cổ” do bác sĩ nhi khoa người Anh John Langdon Down đặt tên vào năm 1866. Ông là người đầu tiên mô tả về hội chứng này. Vào năm 1960, người ta đã phát hiện nguyên nhân của bệnh này là do rối loạn nhiễm sắc thể nên hội chứng này còn được gọi là bệnh ba nhiễm sắc thể ở cặp số 21.

(Hình lấy từ chavame.com)
Nhìn tổng thể bên ngoài trẻ có hội chứng Down có hình dạng giống người Mông Cổ với đầu hơi nhỏ, cổ ngắn, tay chân ngắn. Tóc mọc trên đầu mỏng và thưa. Gương mặt tròn, mũi tẹt, có một nếp da gấp hình bán nguyệt che khoé trong của mắt gọi là nếp quạt. Đa số trẻ có nốt Brushfield, là những nốt trắng nằm ở mép ngoài của tròng đen. Lưỡi dày, to hơn khoang miệng nên thường hay thè ra bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát âm. Tay chân của trẻ Down ngắn, bàn tay và bàn chân bè ra. Các đầu ngón tay hơi to ra, đường vân tay là một đường thẳng nằm ngang kéo dài hết cả bàn tay. Ngón chân cái và ngón thứ hai cách xa nhau, do đó bàn chân bè ra.

(Hình lấy từ soytecantho.vn)
Đa số trẻ Down có bệnh tim bẩm sinh : có lỗ thông liên thất….Tuyến giáp không phát triển, chức năng kém. Trẻ thường hay bị các tật về mắt (cận, lé, lồi giác mạc..) làm ảnh hưởng đến thị lực, phải mang kính. Khả năng thính giác cũng bị hạn chế, thường bị viêm tai giữa, bị ráy tai nhiều dẫn đến bị điếc dẫn truyền và điếc bẩm sinh. Đường tiêu hoá cũng không tốt, khi nhỏ thường gặp khó khăn trong vấn đề ăn uống. Các cơ mềm nhão, các khớp lỏng lẻo, trương lực cơ yếu, nhiều trẻ biết đi chậm và phải tập vật lý trị liệu để hỗ trợ cho vận động.
f. Hội chứng Rett
Hội chứng Rett là hội chứng thuộc nhóm các rối loạn lan toả (Pervasive Developmental Disorders), thường xuất hiện ở bé gái và có sự thoái triển rõ rệt. Bé phát triển bình thường cho đến 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần về vận động, ngôn ngữ. Dáng đi xiêu vẹo, không vững vàng, rất dễ bị ngã. Sau 10 tuổi, hầu hết các bé đều phải sử dụng xe lăn. Đặc điểm nổi bật của hội chứng này là hai tay của trẻ thường xoắn vào nhau như đang vò quần áo và thường hay cắn vào tay. Trẻ mang hội chứng này cũng có những cơn động kinh. Hội chứng này được ông Adreas Rett (người Áo) phát hiện đầu tiên vào năm 1996 và đến nay có nhiều giả thuyết cho rằng đây là bệnh di truyền trội liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính.
g. Hội chứng tự kỷ
Nhìn hình dạng bên ngoài, các bé rất đẹp trai (tỉ lệ mắc hội chứng này ở bé trai nhiều hơn bé gái với tỉ lệ 4 bé trai thì có 1 bé gái). Những biểu hiện rõ rệt ở những trẻ được chẩn đoán có hội chứng tự kỷ là thường có những hành vi lặp đi lặp lại như vẫy tay, vẫy tờ giấy…, khả năng tương tác xã hội và giao tiếp với mọi người rất hạn chế. Bé chỉ thường thích chơi một mình, không quan tâm đến ai, thậm chí không mừng rỡ khi ba mẹ về hay khóc khi ba mẹ đi khỏi. Sự phát triển về cảm xúc cũng khác thường, có những biểu hiện buồn vui vô cớ hay quá trớn. Có những lúc khóc triền miên hay cười liên tục mà người thân không hiểu vì lý do gì. Đôi lúc giận dữ thì hay tự làm tổn thương mình như cắn vào tay, đập đầu vào tường….
Sự thể hiện trên các giác quan cũng không bình thường. Về thị giác : Bé thường hay nhìn vật ở tư thế nghiêng đầu, để mắt vào rất gần vật. Thính giác : Đôi lúc bé phản ứng khó chịu với những âm thanh thật nhỏ, có lúc lại làm ngơ với những tiếng động to. Có bé không thích nghe tiếng hát, tiếng khóc…Có những lúc gọi tên bé bé cũng không nhúc nhích, điều này trong giai đoạn đầu thường làm cho ba mẹ nghi ngờ bé bị điếc. Khứu giác : Mỗi bé có phản ứng với các mùi khác nhau. Vị giác : Khả năng này đặc biệt nhạy với bé. Bé không thích thay đổi món ăn ưa thích của mình. Chỉ là món thịt kho nhưng phải kho như mẹ từng kho mới ăn, còn người khác kho bé nhận ra ngay và từ chối ăn. Có bé đặc biệt rất thích ăn cay, thịt kho với thật nhiều ớt bé mới ăn. Xúc giác : Các bé có ngưỡng cảm giác này khác nhau : cảm giác nông và sâu. Đối với cảm giác nông, dù chạm nhẹ vào cơ thể bé, bé cũng giật nẩy người, không chịu được. Những bé có cảm giác sâu, thường tìm những kích thích thật mạnh như đánh mạnh vào ngực, cắn mạnh vào tay, té mạnh mới thấy đau….
Ngoài các thể hiện trên các giác quan thông thường chúng ta dễ nhận thấy, thì trẻ tự kỷ còn có thể hiện trên hai giác quan đặc biệt khác là hệ thống tiền đình và cảm nhận bản thể. Hệ thống tiền đình ở trong tai, giúp cho sự thăng bằng của cơ thể. Ở trẻ tự kỷ, có những bé có những thể hiện về sự thăng bằng vô cùng đặc biệt. Ví dụ : bé có thể đứng trên xe máy đi từ tay lái đến cuối yên xe, hay đứng trên yên ngựa gỗ lắc lư qua lại như một diễn viên xiếc tài ba mà không qua một sự tập luyện nào. Nhưng cũng có những bé tuy đã hơn 4 tuổi nhưng chưa giữ được thăng bằng cho cơ thể, đi chưa vững, hay ngả nghiêng, rất dễ bị vấp té. Cảm nhận bản thể là cảm nhận trong cơ thể ở các cơ và khớp. Nhờ cảm nhận bản thể, con người nhận biết được bản thân trong không gian, ước lượng được các khoảng cách để tránh né các chướng ngại vật. Đối với trẻ tự kỷ, điều này còn khó khăn nên bé không nhận thức được các nguy hiểm. Các bé thường rất thích trèo lên rất cao như leo đứng lên bàn, lên tủ, leo thang cao…
Những đặc điểm về giác quan như trên là đặc điểm rất đặc thù của trẻ tự kỷ.Trong trị liệu cho trẻ tự kỷ, nhà trị liệu cũng đưa ra những bài tập để rèn luyện các giác quan này qua phương pháp hoạt động trị liệu.

(Hình lấy từ suckhoedoisong.com)
Trẻ tự kỷ còn có hạn chế rất nhiều trong tương tác xã hộivà khả năng giao tiếp. Khả năng sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp hầu như rất ít nơi trẻ làm hạn chế khả năng giao tiếp trong mối quan hệ xã hội. Ví dụ : Bé muốn vật gì thường cầm tay người lớn đến đặt vào vật, chứ không nhìn vật, rồi nhìn người lớn, miệng ê..a hoặc đưa tay chỉ vào vật, tỏ vẻ muốn vật đó. Trẻ thường chỉ thích chơi một mình, không thích tiếp xúc với bạn bé đồng trang lứa. Trong tập thể lớp, bé không cùng ngồi trong nhóm mà đi về một góc tìm chui vào khe nhỏ nào đó như khoảng cách hẹp giữa hai tủ, gầm bàn…Trong cuộc sống, trẻ thường ít chia sẻ, trao đổi tình cảm về niềm vui, sở thích. Trẻ rất khó thể hiện cảm xúc và cũng khó nhận biết được cảm xúc của người khác. Do đó, khả năng hoà nhập xã hội của bé gặp rất nhiều khó khăn.
Hầu hết các trẻ có hội chứng tự kỷ thường chậm về ngôn nhữ nói, thậm chí hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói. Nhưng trẻ lại không biết sử dụng những phương tiện giao tiếp khác để thể hiện ý muốn của mình như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt. Một đứa trẻ 1 tuổi, chưa biết nói nhưng biết chỉ vào bình sữa và khóc cũng giúp ba mẹ hiểu bé đang đói bụng. Còn đối với một số trẻ tự kỷ lại chỉ khóc thôi nên không ai hiểu bé muốn gì.
Trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo đã biết chơi giả vờ, đóng vai rất giỏi. Các bé có thể cầm ly giả vờ đưa lên miệng uống nước, cầm muỗng đút cho búp bê ăn như mẹ vẫn thường đút cho bé, hay như các cô vẫn thường làm như vậy với bé trong giờ ăn. Các bé còn chơi đóng vai những người khác nhau trong xã hội như mẹ, cô giáo, bác sĩ, cô y tá, cô bán hàng, chú công nhân xây dựng…Các bé thể hiện rất rõ những công việc của họ khá đầy đủ như bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân, cô giáo dạy các bạn học hát…Vai trò của những người khác nhau được các bé tự phân công trong nhóm trong các trò chơi đóng vai “Bác sĩ”, “Cô giáo”…Những trò chơi giả vờ, đóng vai thể hiện tính xã hội rất cao. Đối với trẻ tự kỷ thì việc chơi này cực kỳ khó khăn vì sự liên hệ mang tính xã hội của các bé chưa tạo lập được.
Trong giao tiếp, có một số trẻ tự kỷ có thể phát âm ra từ nhưng bé thường hay lặp lại từ một các máy móc. Ví dụ : cô hỏi “ Cái gì đây?”, bé không trả lời mà lặp lại “Cái gì đây?”. Sau đó , cô nói “Cái ca” thì bé nói lại “Cái ca”. Đôi khi ở trẻ có thể nói được từng từ một thì sẽ trả lời những câu hỏi đơn giản, câu hỏi “có – không”, bằng các từ đơn nhưng không duy trì được cuộc đối thoại. Các trẻ này cũng ít khi thể hiện vai trò của người khởi xướng giao tiếp. Lại có những trẻ sử dụng ngôn ngữ khác thường, như trẻ luôn miệng đọc lại nguyên văn của một bản tin chia buồn trên ti vi, hay một đoạn quảng cáo nào đó mà không quan tâm đến câu hỏi của người đối diện.
Trẻ tự kỷ thường hay có những hành vi lặp đi lặp lại như nắm tay lại vỗ nhẹ vào cằm, cắn ngón tay đến chai sần, vẫy tay, nhảy tưng trên nệm lò xo, vỗ mạnh vào ngực…Trẻ rất thích chơi với ô tô, tập trung rất nhiều ô tô, xếp thành hàng ngay ngắn hay lật ngược ô tô để quay bánh xe và nhìn chằm chằm vào bánh xe đang quay. Bé thích sự quay tròn như quay bông vụ, nhìn quạt trần đang quay, quay cái nắp hay là quay tròn cây viết trên tay…Đôi lúc bé thể hiện sự quan tâm trên những vật thể này một cách quá mức. Bé có thể ngồi hàng giờ để ngắm quạt quay, nhảy suốt mấy tiếng đồng hồ trên nệm mà không mệt mỏi. Bé đặc biệt rất thích nước. Trong thời gian qua đã xảy ra hai vụ trẻ tự kỷ bị mất tích và khi tìm thấy thì các bé đã bị chết đuối, thật đáng buồn. Người ta đã khuyến cáo “ Khi nào bé tự kỷ bị mất tích hãy tìm bé ở nơi có nước.”
h. ADHD (Attention Deficit Hyperactivity Disorder – Tăng động, giảm tập trung)
Những đứa trẻ hay chạy lăng xăng từ nơi này đến nơi khác, không ngồi yên một chỗ, chơi với đồ chơi một chút lại quay sang đồ chơi khác ngay. Bé có vẻ như không khéo léo, hay làm rơi đồ đạc, không thực hiện được hoàn tất những công việc được yêu cầu. Những hành động đó khiến người lớn không an tâm, lúc nào cũng phải để mắt đến bé. Những đứa trẻ như vậy khiến chúng ta nghĩ đến bé có rối loạn tăng động, giảm tập trung (ADHD).

(Hình lấy từ baomoi.com)
Biểu hiện giảm tập trung của trẻ thể hiện trên những hành động không tập trung cao vào các chi tiết của công việc, cẩu thả khi thực hiện bài tập ở trường, không cân nhắc kỹ lưỡng nên thường mắc lỗi trong bài tập, khó hoàn thành bài tập. Trong giao tiếp, sự giảm tập trung làm trẻ không chú ý đến lời người khác nói nên thường không hiểu hết lời người nói và dễ quên những điều họ đã nói, dẫn đến khó thực hiện đúng yêu cầu. Do không tập trung được nhiều nên bé rất dễ bị xao nhãng, dễ bị kích thích bởi các yếu tố bên ngoài nên thường rơi vào tình trạng khó khăn trong học tập. Đối với trẻ nhỏ, giảm tập trung sẽ ảnh hưởng đến việc tìm hiểu môi trường xung quanh và học ngôn ngữ.
Trong hội chứng ADHD, trẻ thường thể hiện quá hiếu động và hấp tấp. Lúc nào trẻ cũng như ngồi không yên, lúc nào cũng quơ tay, đung đưa chân hay cả người nhúc nhích trên ghế hoặc rời khỏi ghế đi ra ngoài trong khi các bạn ngồi yên nghe cô kể chuyện. Trẻ rất thích leo trèo, chạy nhảy quá mức, khó tham gia những trò chơi đòi hỏi sự tham gia yên tĩnh như chơi cờ, ráp hình…Vì quá hấp tấp nên trẻ rất khó chờ tới phiên mình, khó tham gia trò chơi luân phiên. Luân phiên là một trong các kỹ năng của tiền ngôn ngữ đòi hỏi bé phải có để phát triển ngôn ngữ. Sự thiếu vắng của các yếu tố tiền ngôn ngữ sẽ làm cho bé chậm trễ trong việc phát triển ngôn ngữ.
3. Một số đặc điểm nổi bật của trẻ chậm phát triển trí tuệ
Từ những khuyết tật, hôi chứng thường đi kèm với chậm phát triển trí tuệ được phân tích ở trên, chúng tôi nhận thấy những đặc điểm nổi bật nơi trẻ chậm phát triển trí tuệ ở những mặt sau :
a. Đặc điểm về cảm giác, tri giác :
Trẻ chậm pht triển trí tuệ cảm giác, tri giác sự vật xung quanh rất chậm, dễ nhầm lẫn và thiếu chính xác. Khi tri giác, trẻ khó quan sát kĩ các chi tiết, phối hợp các thao tác so sánh, phân tích chưa tốt. Điều này dẫn đến trẻ có khó khăn trong việc tiếp thu các kiến thức về thế giới xung quanh (cụ thể là trẻ khĩ nhận ra vật khi nhìn hình ảnh,…)
b. Đặc điểm về tư duy :
Tư duy của trẻ chậm pht triển trí tuệ chủ yếu là tư duy trực quan hình ảnh nên phương pháp giáo dục chủ yếu là phương pháp trực quan. Tư duy lôgic của trẻ rất kém nên khó hiểu được những khái niệm trừu tượng, ý nghĩa sâu xa của vấn đề. Trẻ khĩ sắp xếp cc chuỗi hành động theo thứ tự thời gian. Khả năng tư duy không bảo đảm tính liên tục, thường rất mau mệt, làm gián đoạn các hoạt động.
c. Đặc điểm về trí nhớ :
Trẻ chậm pht triển trí tuệ có nhiều hạn chế về trí nhớ, rất mau quên. Đặc điểm ghi nhớ nổi bật là ghi nhớ máy móc, đôi lúc chỉ ghi nhớ những sự vật, sự kiện yêu thích thôi. Trẻ có thể lặp lại từ, câu nhưng không hiểu nội dung từ, câu đó. Đối với trẻ này việc ghi nhớ trừu tượng, những mối quan hệ lôgic rất khó khăn.
d. Đặc điểm về chú ý :
Khả năng tập trung, chú ý của trẻ kém, luôn bị phân tán bởi ngoại cảnh bên ngoài. Thời gian chú ý cũng không lâu, do vậy khó hoàn thành bài tập được giao và ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ.
e. Đặc điểm về ngôn ngữ :
Hầu như tất cả các trẻ chậm pht triển trí tuệ đều gặp khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ. Vốn từ của trẻ rất nghèo nàn, phát âm thường sai, không hiểu quy tắc ngữ pháp. Nhiều trẻ rất chậm biết nói. Có những trẻ nói được nhưng nội dung nói không phù hợp ngữ cảnh. Cũng có trẻ nói được nhưng khó khăn trong việc diễn đạt ý của mình, thường nói những từ rời rạc hay dùng câu đơn. Do có khó khăn trong việc ghi nhớ nên trẻ rất khó khăn trong việc nhớ từ mới.
f. Đặc điểm về hành vi :
Ở những trẻ chậm pht triển trí tuệ thường có hành vi nổi bật là làm theo ý mình nhiều hơn, ít khi chịu làm theo yêu cầu của người khác. Bên cạnh đó, trẻ thường rất hiếu động, khó kiềm chế được mình nên khó tham gia vào những trò chơi tập thể, khó thực hiện những quy tắc được đề ra. Ngược lại, có những trẻ rất thụ động, thường thu mình lại, không giao tiếp với mọi người, dẫn đến khó tiếp thu những kiến thức mới nhất là về ngôn ngữ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Lê Thư, Nguyễn Văn Huệ (1998), Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt, NXBGD, TP Hồ Chí Minh
2. Trần Thị Lệ Thu (2002), Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Mora Pieterse, Robin Treola & Sue Cairns (1974), Small Steps, Macquarie University, Sydney
4. Sinh lý y khoa – Đại học Y Phạm Ngọc Thạch
5. Tâm lý học trẻ em
6. Tâm lý học phát triển
Tin tức
- KHÓA HUẤN LUYỆN GIÁO VIÊN CHUYÊN ĐÊ 2 "ÂM NGỮ TRỊ LIỆU TRONG CAN THIỆP SỚM TRẺ TỰ KỶ, CHẬM NÓI" 11-10-2018
- HỆ THỐNG LỚP HÒA NHẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON BÌNH THƯỜNG 10-10-2018
- Tuyển dụng tháng 5 26-05-2018
- ĐOÀN TRƯỜNG KHUYẾT TẬT AN GIANG ĐẾN THĂM TỪNG BƯỚC NHỎ 02-04-2018
- TẬP HUẤN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TPHCM 08-03-2018
Thống kê truy cập







![]() | Hôm nay | 22 |
![]() | Hôm qua | 125 |
![]() | Tuần này | 22 |
![]() | Tháng này | 3168 |
![]() | Tổng cộng | 402053 |




