Sử dụng scan thính giác giúp trẻ đa khuyết tật giao tiếp
Use auditory scaning to help the multi – disabilities children communicate
(Chiến lược này được hướng dẫn thực hiện bởi Ms Bronwyn Bail, chuyên viên âm ngữ trị liệu đến từ Úc)
Abstract:
Trẻ bại não kèm theo khó khăn về vận động thô, vận động tinh, thị giác kém sẽ gặp khó khăn trong giao tiếp. Nếu trẻ nghe tốt và có thể hiểu những yêu cầu đơn giản thì việc sử dụng chiến lược scan thính giác sẽ giúp trẻ giao tiếp tốt hơn. Từ đó chúng ta sẽ cải thiện đươc chất lượng sống cho trẻ đa khuyết tật.
Cebral falsy children with difficult about the gross motor and the fine motor, impair visual will have difficult communication. If they can hear very well anh understand the simple instructions we can use auditory scaning to help them communication better. There fore, we improve the quality of their life.
Key words:
Scan thính giác, trẻ đa khuyết tật, giao tiếp, trẻ đa khuyết tật giao tiếp
Auditory scaning, multi – disabilities children, communicate, multi – disabilities children communicate
1. Mở đầu
Trẻ đa khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết các chức năng hoạt động của cơ thể. Trường hợp cụ thể là trẻ có khó khăn về thể chất, thị giác kém, chậm phát triển trí tuệ và chậm phát triển ngôn ngữ. Những trẻ này gặp khó khăn rất nhiều trong cuộc sống. Vì bị khó khăn về thể chất, bé có hạn chế về vận động thô và vận động tinh. Những hạn chế này làm bé đi đứng khó khăn, khó cử động hai bàn tay. Do đó, sự điều hợp của tay chân cũng gặp nhiều khó khăn (thường gặp ở trẻ bại não mất điều hợp). Thị giác kém làm trẻ khó nhận biết được người, vật xung quanh. Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh. Làm sao trẻ thể hiện được ý muốn của mình? Nhưng trẻ có khả năng hiểu các yêu cầu đơn giản, tên gọi các sự vật, biết gật đầu khi nghe nói đúng tên vật hay hoạt động trẻ muốn.
Trẻ cần biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh ở mức độ đơn giản nhất là thể hiện sự chọn lựa. Trong sinh hoạt hàng ngày ở trường và ở nhà trẻ cần được biểu lộ ý muốn của mình, và người giao tiếp với bé phải biết đáp ứng đúng nhu cầu của trẻ. Như vậy chúng ta mới nâng cao được chất lượng sống cho trẻ. Để đạt được điều đó, chúng ta phải giúp trẻ thể hiện ý muốn của mình với các chiến lược phù hợp.
2. Nội dung chiến lược
2.1. Cơ sở lý luận
Đối với trẻ có khó khăn về phối hợp cả hai tay, thị giác kém, không có lời nói, có thể nghe hiểu các yêu cầu đơn giản, nhận biết được các đồ vật quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày thì chiến lược scan thính giác sẽ giúp bé giao tiếp tốt hơn.
2.2. Nội dung chiến lược
Scan thính giác là một chiến lược được sử dụng giúp trẻ thể hiện ý muốn của mình về vật, về hoạt động bằng cách gật đầu khi nghe đến tên vật hay hoạt động. Người giao tiếp sẽ nêu tên từng vật (hoạt động) cho trẻ nghe theo một dãy các tên, trẻ sẽ gật đầu khi nghe đến tên vật (hoạt động) mình muốn. Nội dung chủ yếu của chiến lược là phải thực hiện đúng theo kịch bản đã định sẵn và luôn nhất quán trong mỗi buổi luyện tập.
Kịch bản như sau :
(Tên trẻ), bây giờ là giờ lựa chọn.
Lựa chọn là (tên vật hay hoạt động)....hoặc.....hoặc....
Bây giờ cô nói lại một lần nữa các vật lựa chọn.
Nghe
Chờ
(Tên vật) .....ngừng ...(tên vật) .....ngừng....
Gật đầu (hay dấu hiệu khác) khi con nghe cái con muốn.
2.3. Những điều cần ghi nhớ khi sử dụng chiến lược
Muốn sử dụng phương pháp scan có hiệu quả cần theo đúng các kỹ thuật của kịch bản. Người giao tiếp cần nói rõ ràng từng từ, nói nhanh, chậm tùy từng đoạn của kịch bản. Khi nói đến "Lựa chọn là..", người giao tiếp phải nói nhanh nhưng rõ tên các vật (hoạt động). Phải nói nhanh để trẻ không gật đầu tại giai đoạn này vì chưa cần trẻ thể hiện ý muốn. Nhưng khi nói tên vật (hoạt động) ở phần cuối của kịch bản cần nói rõ tên vật (hoạt động), dừng lại khoảng 5" cho trẻ có thời gian chọn lựa.
Trong trường hợp trẻ chưa gật đầu khi người giao tiếp nói đến tên vật trẻ muốn thì cần có người hỗ trợ phía sau giúp bé gật đầu và nói : "Con muốn thì con gật đầu". Điều quan trọng là người giao tiếp phải hiểu bé nhiều, biết chính xác vật hay hoạt động trẻ thích. Nhưng nếu trẻ có gật đầu khi nghe bất cứ tên vật nào cũng đưa ngay vật đó cho trẻ.
Trước khi thực hiện scan thính giác, chúng ta phải tìm hiểu xem trẻ thích cái gì, ghét cái gì. Đầu tiên cho trẻ chọn lựa hai vật (hoạt động). Dãy chọn lựa chỉ có hai với thứ tự cái ghét đứng trước, cái thích đứng sau. Lý do là để trẻ phân biệt rõ từng cái và gật đầu đúng cái trẻ muốn. Sau đó, tăng dần dãy chọn lựa lên ba, bốn hoặc năm vật. Sự sắp xếp trong dãy chọn lựa là cái ghét thường ở phía trước, những cái ít thích, thích nhiều ở phía sau. Sở dĩ có sự sắp xếp như vậy để trẻ thể hiện sự chọn lựa rõ ràng.
Những dấu hiệu thể hiện sự chọn lựa có thể là gật đầu, chớp mắt, mĩm cười, đưa tay lên....Tùy theo khả năng của trẻ, người giao tiếp thỏa thuận với trẻ dấu hiệu thể hiện sự đồng ý. Và dấu hiệu này luôn luôn được sử dụng trong các trường hợp chọn lựa, không thay đổi.
3. Ví dụ minh họa
Chúng tôi đã thực hiện trên một trẻ gái 9 tuổi 5 tháng. Em được chẩn đoán là bại não mất điều hợp. Em gặp khó khăn về vận động thô và vận động tinh. Khi đi em nhấc từng chân một, ngả nghiêng rất dễ té. Tay trái thường hơi co lại, chỉ đưa lên đưa xuống, không cử động được các ngón tay. Tay phải có thể cầm bút, đưa ngón trỏ ra chỉ. Thị giác của em bị hạn chế. Em chỉ nhìn thấy bóng người, bóng vật nhưng không nhìn rõ là ai hay vật gì. Nhưng em nghe và phân biệt giọng nói rất tốt. Em định hướng được lời nói xuất phát từ đâu. Sauk hi lượng giá ban đầu, chúng tôi nhận thấy em có thể hiểu các yêu cầu đơn giản như lấy ca cho cô, ngồi xuống ghế của con.....Em có nhu cầu giao tiếp và chủ động giao tiếp. Em phát âm và làm cử chỉ, điệu bộ để thu hút sự chú ý của ngưới khác và thể hiện ý muốn của mình với người đối diện. Em đã tự nghĩ ra những điệu bộ, cử chỉ để diễn tả ý muốn như đưa ngón tay chỉ vào miệng là muốn uống, đưa ngón tay chỉ vào miệng, làm động tác nhai là ăn, gác tay lên trán là ngủ....Em còn thể hiện rất nhiều cử chỉ khác mà trong từng tình huống không phải ai cũng hiểu.
Dựa trên những hạn chế và khả năng hiện có của trẻ chúng tôi cố gắng tìm ra những chiến lược giúp bé thể hiện tốt hơn những gì bé muốn và nhiều người hiển bé hơn. Trong cuộc sống, việc đưa ra yêu cầu là nhu cầu bức thiết của một con người. Đối với bé gái này, em cũng cần có những nhu cầu nhưng khó có thể bày tỏ bởi vì em không biết nói. Để tạo điều kiện cho em có thể giao tiếp tốt hơn chúng tôi quyết định sử dụng chiến lược scan thính giác. Chiến lược này dựa trên khả năng nghe hiểu của em, giúp em thể hiện nhu cầu bằng cách gật đầu khi nghe đúng cái mình muốn. Chiến lược này không đòi hỏi em phải chỉ vào vật hay hình, không đòi hỏi em phải diễn tả bằng cách phối hợp hoạt động của hai tay.
Theo tìm hiểu chúng tôi biết em không thích bánh và thích cô cầm khăn chà xát lên hai tay của bé. Và chúng tôi bắt đầu scan thính giác với bánh và khăn. Chúng tôi thực hiện đúng kịch bản như trên vài lần. Cuối cùng em đã gật đầu đúng vật bé thích là khăn. Sauk hi em đã chọn lựa thành thạo với 2 vật sẽ thực hiện với ba vật, tăng dần đến bốn, năm vật.
4. Kết luận
Đây là chiến lược hiệu quả dành cho trẻ có khó khăn trong việc phối hợp hai tay, thị giác có hạn chế và khả năng hiểu ở mức độ nhận biết tên gọi vật. Ngoài ra, trẻ còn có khả năng thể hiện sự chọn lựa với dấu hiệu nào đó. Hạn chế lớn nhất của chiến lược này là người giao tiếp phải thật kiên nhẫn, dành thời gian cho trẻ lắng nghe từng vật được nêu tên và thể hiện dấu hiệu chọn vật. Bên cạnh đó, scan thính giác chỉ hiệu quả khi vật (hoạt động) chọn lựa trẻ thật sự thích.
Đây là một chiến lược còn rất mới, rất có thể chưa quen thuộc với những nơi đang nuôi dạy trẻ đa khuyết tật. Nhưng nếu cố gắng thực hiện thì sẽ giúp cho trẻ giao tiếp tốt hơn cũng như giúp cải thiện chất lượng sống của trẻ.
Lời cám ơn: Xin cám ơn Ms Bronwyn Bail đã cung cấp thông tin về scan thính giác và hướng dẫn thực hiện chiến lược này trên trẻ. Đồng thời cũng cám ơn Ban Giám đốc Trung tâm phục hồi chức năng và hỗ trợ trẻ tàn tật cùng quý phụ huynh đã tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện trực tiếp trên trẻ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Catherine Orr, MA, OTR, BCP, Oral moral activities for children – Vận động miệng, Bản dịch : Ngô Thị Vân Khánh, Copyrighted Material, USA.
2. TS.BS Vũ Thị Bích Hạnh, ThS.NN Đặng Thái Thu Hương (2004), Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, NXB Y học, Hà Nội.
3. Nguyễn Xuân Khoa (2003), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trè mẫu giáo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
TÀI LIỆU TIẾNG ANH
4. Marianne Simpsons, Elizabeth Dain (2004), Báo cáo và tài liệu tập huấn dạy trẻ khuyết tật (bại não), TP Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thị Phương Nga (2005), Tuyển tập bài tập trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh.
6. Tara Winterton (1997), Giao tiếp với trẻ em ,Tài liệu huấn luyện ngôn ngữ, Tổ chức hỗ trợ và phát triển CRS.
7. Nguyễn Văn Thành (2001), Trẻ em chậm phát triển - Phương thức và dạy dỗ, Tủ sách tình người, Lausanne, Thụy Sĩ.
8. Trần Thị Lệ Thu (2002), Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. Charlotte Lynch, Julia Cooper (1991),Early Communication Skills, Winslow Press Ltd. , UK.
Tin tức
- KHÓA HUẤN LUYỆN GIÁO VIÊN CHUYÊN ĐÊ 2 "ÂM NGỮ TRỊ LIỆU TRONG CAN THIỆP SỚM TRẺ TỰ KỶ, CHẬM NÓI" 11-10-2018
- HỆ THỐNG LỚP HÒA NHẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON BÌNH THƯỜNG 10-10-2018
- Tuyển dụng tháng 5 26-05-2018
- ĐOÀN TRƯỜNG KHUYẾT TẬT AN GIANG ĐẾN THĂM TỪNG BƯỚC NHỎ 02-04-2018
- TẬP HUẤN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TPHCM 08-03-2018
Thống kê truy cập







![]() | Hôm nay | 22 |
![]() | Hôm qua | 125 |
![]() | Tuần này | 22 |
![]() | Tháng này | 3168 |
![]() | Tổng cộng | 402053 |




